Hỏi – Đáp Đồng Tính Luyến Ái

HỎI – ĐÁP VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI

Đây là một tài liệu ngắn gọn dưới hình thức “hỏi-đáp” ở dạng cơ bản, sơ lược về đề tài người đồng tính luyến ái, với định hướng giúp bạn trở nên ngày càng lành mạnh hơn, nếu bạn cho phép điều này xảy ra.

Nếu bạn có một cách tiếp cận hay định hướng khác thì cũng là điều bình thường. Bạn cứ coi như bản thân đang tham khảo thêm một lăng kính khác, bên cạnh lăng kính mà bạn đang có sẵn, với một tinh thần cởi mở và khách quan.

Vài từ ngữ viết tắt:

  • SSA = same sex attraction: sự hấp dẫn đồng giới, đồng tính luyến ái;
    • gay: đồng tính nam; lesbian: đồng tính nữ; 
  • GID = gender identity disorder: Rối loạn về căn tính của giới.

______ 

Có thể định nghĩa đồng tính như thế nào?

Định nghĩa truyền thống thường mô tả đồng tính luyến ái (homosexuality) hay sự hấp dẫn đồng giới (same-sex attraction – SSA) như là một sự thu hút dai dẳng và nổi trội, về mặt tình dục hay sinh lí, từ phía những người cùng giới với mình.

Chữ “dai dẳng” có ý muốn nói có lẽ đương sự ít cảm thấy thích thú hơn về tình dục đối với người khác phái.

Một định nghĩa truyền thống khác do tiến sĩ Gerard van den Aardweg: “Chúng tôi dùng chữ đồng tính ở đây để chỉ những ước muốn tình dục hướng tới những người cùng phái, đồng thời giảm đi sự thích thú tình dục đối với những người khác phái”(32).

Nguồn gốc

Từ một quan điểm khác, tiến sĩ Elizabeth Moberly cho rằng xu hướng đồng tính “không phụ thuộc vào sự thiếu cân bằng hoóc-môn có tính di truyền hoặc do các tiến trình tiếp thu bất bình thường, nhưng do từ những khó khăn trong mối quan hệ cha mẹ-con, nhất là trong những năm tháng của thời thơ ấu”(33).

Trong khi nhìn nhận tính phức tạp của hiện tượng đồng tính luyến ái, Moberly lưu ý một nguyên lí cơ bản, đó là: người nam hay người nữ đồng tính đã phải chịu một sự thiếu thốn nào đó trong mối quan hệ với người cha hay người mẹ cùng giới với mình, và có một xung năng tương ứng nhằm cải thiện sự thiếu thốn ấy nhờ mối quan hệ đồng giới hay đồng tính. Có thể tình trạng này là hậu quả của một chấn thương nào đó thời thơ ấu, đã hủy diệt sự quyến luyến đối với người cha hay mẹ đồng giới, để lại nơi đứa bé nhu cầu quyến luyến đồng giới không được thoả nguyện. Điều này không hàm nghĩa người cha/mẹ đồng giới với em chủ tâm bỏ bê hay đối xử với em tàn tệ.

Moberly có ý muốn nói đồng tính (homosexuality) nói chung là một tình trạng lưỡng nan về đồng giới, nghĩa là, trước hết đó là một vấn đề về căn cước giới tính (gender-identity) hơn là vấn đề về tình dục-sinh dục (34). Vì đứa bé kìm nén hay trấn áp giới tính của mình, nên xung năng đối trọng để khôi phục lại sự quyến luyến được củng cố mạnh thêm. Hậu quả của sự rời bỏ có tính phòng vệ đó là tình trạng lưỡng nan đồng giới (35).

Quan điểm truyền thống về đồng tính tập trung vào ước muốn tình dục-sinh dục đối với một người đồng phái, trong khi định nghĩa của Moberly thì liên hệ đến sự tiến thoái lưỡng nan; hay nói khác đi, là tình trạng, trạng thái mà khi con người không biết chọn quyết định nào cho đúng, muốn tiếp tục cũng không thành mà buông bỏ cũng không thể, chỉ biết chờ đợi cơ hội khác, về căn cước giới tính (nhân dạng giới tính) của họ.

Tình trạng này tồn tại trước khi xảy ra hoặc độc lập với bất kỳ hoạt động tình dục nào. Điều quan trọng là, nhu cầu về căn cước giới tính của một người có thể (và phải) được đáp ứng cách độc lập đối với hoạt động tình dục. (36).

Những câu “hỏi-đáp” để hiểu về đồng tính luyến ái

Trong khoảng bốn mươi năm trở lại đây, việc hiểu biết và điều trị cho những người cảm thấy hấp dẫn đối với người đồng phái (SSA) là một sự cam go và phức tạp. Các chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau cùng các hiệp hội chuyên môn đã chấp nhận thay đổi định hướng một cách đáng kể, nhiều khi do áp lực văn hóa chứ không phải do những dữ kiện mới của khoa học.

Mặc dù trải qua nhiều thay đổi và áp lực đáng kể ấy, chúng tôi luôn ủng hộ một đường hướng tiếp cận lành mạnh dành cho những người cảm nghiệm SSA.

I. Có phải SSA đã được chỉ định bởi gen trước khi sinh không?

Không. Sở dĩ nhiều người nghĩ như vậy bởi vì những người có SSA thường kể rằng họ đã khám phá ra nó chứ không do mình chọn lựa. Các phương tiện truyền thông tiếp tục tuyên truyền rằng khoa học đã khám phá một “gene gay” (gen của đồng tính). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không tìm ra một nguyên nhân sinh lý của SSA (1-5), và ngay cả những người tranh đấu cho phong trào gay cũng không ủng hộ thuyết về “gene gay”. Giả như SSA đã được chỉ định trước khi sinh ra, thì trên lý thuyết, tất cả những anh em song sinh đều có cùng một mẫu luyến ái. Tuy như một cuộc nghiên cứu của Australian Twin Registry nơi những người nam đã cho thấy rằng chỉ có 11% các cặp song sinh đồng hợp tử với SSA có một anh em cũng cảm thấy SSA. Ngoài ra cũng cần ghi nhận một số khá nhiều các công trình nghiên cứu đã nêu bật rằng các khuôn mẫu SSA không bền bỉ theo dòng thời gian. Một vài người đã tự ý không coi mình là đồng tính nữa khi họ trưởng thành hoặc nhờ một sự giúp đỡ từ bên ngoài.

II. Nếu SSA không bị chỉ định bởi một gen, thì nó có nguyên nhân bởi đâu?

Có rất nhiều con đường dẫn đến SSA. SSA và các cách ứng xử liên quan xem ra là hậu quả của một sự kết tinh của nhiều nhân tố của sự phát triển, cảm xúc, tâm lý, xã hội. Mỗi người có SSA có một lịch sử hoàn toàn độc đáo, tuy vậy cũng có vài yếu tố chung:

  1. Thiếu một mối dây liên kết an toàn giữa cha mẹ – con cái trong thời kỳ ấu nhi.
  2. Rối loạn về căn tính của giới (GID = gender identity disorder) vào lúc thiếu thời cùng với sự thiếu khuyến khích về phía cha mẹ để cho thiếu nhi đồng hóa mình với những nét của nam tính hoặc nữ tính, và kết thân với những người cùng phái tính. (17)
  3. Sự phân ly vật lý của một hay của cả hai cha mẹ vào lúc thiếu thời. (17)
  4. Nơi nam giới, một tương quan thiếu sót giữa cha/con trai, vì nhìn thấy người cha quá xa cách, chỉ trích, ích kỷ, nóng tính hay trước đây nghiện rượn: hoặc nhìn thấy người mẹ như là lộng hành (10,16), lệ thuộc quá đáng, nóng tính và gay gắt. (7,8,12)
  5. Nơi nữ giới, một người mẹ trầm cảm hoặc bị rối loạn tâm lý trong những tháng đầu tiên của cuộc đời hoặc xa cách về tình cảm, chỉ trích hoặc lộng quyền; không được những bạn đồng tuổi đón nhận; một người cha bỏ rơi gia đình hoặc được nhìn như là nóng tính, chỉ trích, xa cách, ích kỷ hoặc vốn là một người nghiện rượu.
  6. Thiếu đồng hóa và thiết lập tình bạn với những người cùng phái tính; cô đơn sâu đậm. (13,14)
  7. Nơi nam giới, không được các bạn đồng tuổi đón nhận, hình ảnh tầm thường về thân thể của mình và căn tính nam tính yếu ớt bắt nguồn do thiếu khả năng thực hành các môn thể thao phổ biến (tựa như túc cầu, do kém phối trí vận động tay/mắt). (6,7)
  8. Một tiểu sử bị lạm dụng lúc thiếu thời, cách riêng là lạm dụng tính dục hoặc hiếp dâm. (17,18)
  9. Mặc cảm tự ti (cảm thấy mình kém nam tính hay nữ tính) hoặc không được thuộc về một giới, dẫn đến thái độ than thân trách phận và bi đát hóa.  (7)
  10. Một quá khứ cá nhân đã bị chế diễu hoặc kỳ thị bởi những trẻ em khác hay người lớn, do tính tình, tài năng và hình dáng. Cách thức mà em bé phản ứng lại cách thức được đối xử có thể góp phần vào việc phát triển SSA . (7)
  11. Quá chú ý đến mình (narcisism) hoặc ích kỷ sâu đậm. (15)

III. Có những dấu hiệu báo động cho thấy một em bé đang phát triển SSA không?

Nếu một em bé có những triệu chứng của  GID (rối loạn căn tính về giới) như: đồng hóa mình với giới bên kia, kém khả năng tương giao với những bạn đồng tuổi thuộc cùng phái tính, thiếu những trò chơi có tính đối kháng (đối với bé trai), ưa cải trang (mặc y phục khác giới), khó chịu với phái tính của mình, sợ xã hội… thì đó chính là điều đáng báo động. Nếu GID không được chữa trị, thì có đến  75% các em bé có thể phát triển SSA. (17)

IV. Có thể phòng ngừa SSA không?

Có thể chứ. Sớm nhận ra các em bé có nguy cơ, kèm theo tâm lý trị liệu và sự hỗ trợ của cha mẹ: đó là những nhân tố quyết định để phòng ngừa và chữa trị sự đau khổ tình cảm của các em bé và thiếu nhi này (19,20).

V. Tại sao giúp đỡ những người cảm thấy SSA là một điều quan trọng?

Ngoài đau khổ tình cảm và bị xã hội hất hủi mà các người cảm thấy SSA phải chịu, những nghiên cứu khoa học mới đây còn cho thấy nhiều triệu chứng tâm bệnh đang lan rộng nơi những thiếu niên và thanh niên mang SSA, trong đó có thể kể: trầm cảm nặng (14,21,22), xao xuyến  (14,20,21), lạm dụng ma túy (14,21,22,24), rối loạn trong cung cách (14), nghĩ tưởng hoặc âm mưu tự tử  (14,22,23).

Mặc dù người ta tố cáo rằng nguyên nhân của những vấn đề này là thái độ của xã hội đối với những người có SSA, nhưng các cuộc nghiên cứu tại những quốc gia có tỉ lệ cao những người SSA hoặc đã được xã hội chấp nhận (Hà Lan, Tân Tây Lan) cũng cho thấy những chỉ số tương tự.

Nhiều cuộc nghiên cứu xem ra đưa đến kết luận là những người SSA đã bị lạm dụng tính dục khi còn nhỏ và đã chịu đựng những hành vi bạo lực trong gia đình hoặc hiếp dâm (27). Trong một cuộc điều tra, 39% những người nam bên Hoa Kỳ đã thuật lại rằng họ đã bị lạm dụng do người cùng phái. Những người có SSA có nguy cơ mắc phải những bệnh được truyền qua tình dục (STDs – Sexually transmitted diseases ) bởi vì có lẽ họ thực hành tính dục với nhiều đối tượng khác nhau. Ngoài ra những người có SSA ít có hy vọng sống thọ (28,29).

VI. Nếu một thiếu niên hoặc thanh niên cảm thấy có SSA thì có thể làm gì được?

Người ấy có thể nhờ các chuyên gia về sức khỏe tâm thần có kinh nghiệm chữa SSA. Nên nhớ rằng những người có SSA có thể mắc những rối loại tâm lý khác nữa hoặc những dạng nghiện ngập khiến cho tiến trình hồi phục trở thành phức tạp hơn. Vì thế thường cần tới một cuộc chữa trị toàn diện. Các chương trình chữa trị thường có một nhân tố tâm linh, tương tự như sự chữa trị nghiện ngập.

VII. Mục tiêu của việc chữa trị là gì?

Sự chữa trị có thể giúp thân chủ nhận ra các nguyên nhân của SSA, thường hàm ngụ sự đánh giá thấp kém về bản thân, xao xuyến, bực bội, buồn phiền cô đơn, và giúp họ vượt qua sự đau khổ tình cảm. Lúc ấy, việc chữa trị có thể giúp cho đương sự nỗ lực để đạt tới sự quân bình trong đời sống của mình. Một số ít người đạt được điều ước muốn lập gia đình và có con cái; còn những người khác khám phá là mình phù hợp với đời sống độc thân.

VIII. Việc chữa trị có hiệu quả tới đâu?

Tuy không có những bảo đảm, nhưng có những báo cáo về những việc chữa trị SSA hữu hiệu.

Thành công của nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tính chuyên môn của người chữa trị sức khỏe tâm thần, tương quan giữa người chữa trị và thân chủ, thời gian chữa trị, sự hiện hữu của những vấn đề tâm lý khác, sự lạm dụng ma túy, sự lệ thuộc tình dục.

Khó nói trước kết quả của việc chữa trị. Một cuộc nghiên cứu gần đây trên 200 người nam nữ đã nhờ đến chuyên viên để giải quyết SSA thì ghi nhận  64% người nam và 43% người nữ sau khi được chữa trị đã đồng hóa mình như là “dị tính” (heterosexual) (5,10,30) – nghĩa là có khuynh hướng trở về người bình thường.

Như vậy, xét về con số và hiệu quả thì việc chữa trị chưa đạt được mục tiêu mong muốn về mặt khoa học, tuy nhiên, trái với khẳng định của những người chống đối, các cuộc nghiên cứu không chứng mình rằng sự trị liệu tăng thêm sự bất an tâm lý. (31)

IX. Còn có cách nào khác để giúp đỡ những người có SSA?

Mỗi người có thể tìm đến những chuyên viên sức khỏe tâm thần, những nhóm nâng đỡ, những người hướng dẫn tâm linh trong các tôn giáo khác nhau để tìm hiểu về đồng tính và mọi khía cạnh liên quan, đặc biệt về lãnh vực luân lý tính dục.

Cũng cần biết phân biệt và thẩm định rõ ràng mục đích sâu xa của các nhóm nâng đỡ những người SSA xuất phát từ đâu, để đưa ra sự chọn lựa đúng đắn và lành mạnh.

X. Đối với người cảm thấy SSA, tôn giáo có quan trọng không?

Có. Rất nhiều người có SSA kể rằng việc tham gia vào các tôn giáo đích thực cùng với sự thực hành tôn giáo đi kèm đã rất hữu ích cho họ trong việc chiến đấu chống lại cảnh cô đơn và buồn phiền, sự thiếu tin tưởng vào bản thân, sự bực tức nóng giận, nỗi xao xuyến và những hoàn cảnh đau khổ tình cảm khác.

Riêng đối với những người chưa coi việc tham khảo tin vào một tôn giáo nào đó thì chúng ta luôn tôn trọng và nâng đỡ họ về tâm lý và đời sống.

XI. Những sự kết hợp giữa những người đồng phái có nên được thừa nhận và coi như “hôn nhân” không?

Cuộc nghiên cứu về những sự kết hợp giữa những người đồng phái chứng minh rằng sự kết hợp này khác biệt đáng kể, vì trong phần lớn những cuộc kết hợp này không có hoặc không muốn có tính độc hữu và bền bỉ. Những sự kết hợp giữa những người đồng phái mang tỉ lệ cao hơn về sự lạm dụng, trầm cảm, lạm dụng ma túy và các bệnh sinh dục.

Các chuyên gia cần cảnh báo các thân chủ của mình về những nguy hiểm của các cuộc kết hợp giữa những người đồng phái, và bày tỏ lập trường chống lại việc ký thác hay gửi các em bé làm con nuôi cho những sự kết hợp bất ổn như vậy.

Một khối lượng to lớn những nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng khung cảnh lành mạnh cho sự phát triển của một em bé là một gia đình có một người mẹ và một người cha kết hôn với nhau.

XII. Việc quan hệ tình dục đối với người đồng tính thì sao?

“Một số không nhỏ những người nam và người nữ có khuynh hướng đồng tính luyến ái ăn sâu vào và không dễ lay chuyển. Khuynh hướng này, khi xét cách khách quan, là một sự xáo trộn, và nó trở thành một sự thử thách đối với nhiều người khi đang trong tình trạng như vậy. Vì thế họ cần được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị”.

‘Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là xáo trộn’. Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng khép kín hành vi tính dục khỏi việc ban tặng sự sống. Chúng không phát xuất từ tính bổ sung thật sự về tình cảm và tính dục.

Vì thế, việc đồng hành, hướng dẫn để những người đồng tính hiểu được bản chất của thực trạng đang diễn ra nơi bản thân là rất quan trọng. Đồng thời khuyến khích, nâng đỡ và mời gọi họ, với sự khôn ngoan tự nhiên của bản thân, biết học cách, dù không hề dễ dàng, để kiềm chế dục vọng cá nhân và hướng về sự lành mạnh nơi tâm hồn và thể xác.

———————————-

Tham khảo

  1. Byne, W., et al. Archives of General Psychiatry. 50: 229 – 239, 1993
  2. Crewdson, J. Chicago Tribune. June 25, 1995
  3. Goldberg, S. National Review. February 3: 36 – 38, 1992
  4. Horgan, J. Scientific American. November : 28, 1995
  5. Thư tịch đầy đủ trong bản văn Homosexuality and Hope.
  6. Bailey, J. et al.Archives of Sexual Behavior. 22, 5: 461 – 469, 1993
  7. Fitzgibbons, R. In Wolfe, C. Homosexuality and American Public Life, Spense. 85 – 97, 1999
  8. Apperson, L. et al. Journal of Abnormal Psychology. 73, 3: 201 – 206, 1968
  9. Bene, E. British Journal of Psychiatry. 111: 803 – 813, 1965
  10. Bieber, I. et al. Homosexuality: A Psychoanalytic Study of Male Homosexuals. NY: Basic Books, 1962
  11. Pillard, R. Psychiatric Annals.18, 1: 52 – 56, 1988
  12. Sipova, I. et al. Homosexuals and Social Roles, NY: Haworth. 75 – 85, 1983
  13. Hockenberry, S. et al. Archives of Sexual Behavior. 16, 6: 475 – 492, 1987
  14. Fergusson, D. et al. Archives of General Psychiatry.56, 10: 876 -888, 1999
  15. Fitzgibbons, R. in Truth About Homosexuality, Fr. Jhon Harvey, O.S.F.S., ed. Ignatius Press, 1996
  16. Snortum, J. et al. Psychological Reports. 24: 763 – 770, 1969
  17. Zucker, K. Et al. Gender Identity Disorder and Psychosexual Problems in Children and Adolescents.NY: Guilford, 1995
  18. Finkelhor, D. Child sexual abuse: New theory and research.NY: The Free Press, 1984
  19. Fitzgibbons, R., et al. in Lay Witness. June 2001
  20. Rekers, G., ed. Handbook of Child and Adolescent Sexual Disorders. Lexington Books, 1997
  21. Sandfort, T.G. Archives of General Psychiatry. 58, 1:85-91, 2001
  22. Skegg, K., et al. American Journal of Psychiatry. 160, 3:541-546, 2003
  23. Herrell, R., et al. Archives of General Psychiatry. 56, 10:867-874, 1999
  24. Garofalo, R. et al. Pediatrics. 101, 5: 895 – 903, 1998
  25. Sandfort, T.G. Archives of Sexual Behavior. 32, 1:15-22, 2003
  26. Xiridou, M. AIDS. 17,7:1029-1038, 2003
  27. Greenwood, G., et al. American Journal of Public Health. 92, 12:1964-9, 2002
  28. Hogg, R., et al. International Journal of Epidemiology. 26, 3:657-61, 1997
  29. Diggs, J. R. “Health Risks of Gay Sex”Corporate Research Council, 2002
  30. Nicolosi, J., et al. NARTH1998
  31. Spitzer, R. L. Archives of Sexual Behavior. 32, 5:403-417, 2003
  32. Van den Aardweg, On the Origins and Treatment of Homosexuality (New York: Praeger, 1986), p. 1. 
  33. R. Moberly, Homosexuality: A New Christian Ethic (Cambridge, England: James Clark, 1983), p. 2. 
  34. F. Harvey, O.S.F.S., The Homosexual Person (San Francisco: Ignatius Press, 1987), p.28. 
  35. R. Moberly, Homosexuality: A New Christian Ethic, được trích lại trong Harvey, The Homosexual Person, p.28. 
  36. Harvey, The Homosexual Person, p.28. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *